Uyên ương hóa bướm
Câu chuyện tình bi thảm của đôi uyên ương hóa bướm hay chuyện tình Lương-Chúc được coi là một huyền thoại của người Trung Quốc về tình yêu lãng mạn với hai nhân vật là Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài. Huyền thoại này có thể đem so sánh với chuyện tình Romeo và Juliet của người phương Tây.
Thời Đông Kim (317-420), có cô gái trẻ tên Chúc Anh Đài, xinh đẹp thông minh, là con gái duy nhất trong một gia đình giàu có ở Chiết Giang. Thời đó, con gái không được tới trường học. Nhưng Chúc Anh Đài đã xin cha mẹ cho cô cải trang thành nam tử và lặn lội tới Hàng Châu tìm thầy. Trên đường đi, cô gặp Lương Sơn Bá, một môn sinh cũng đang tầm sư học đạo, hai người đã cảm thấy như những người bạn thân thiết, họ kết bái làm huynh đệ.
Trong ba năm học tập, họ ở cùng phòng, ngủ chung một chiếc giường nhưng mỗi người một chiếc chăn. Tuy nhiên, Lương là con "mọt sách", nên không hề hay biết Chúc là gái giả trai.
Ba năm trôi qua, họ tạm biệt thầy dạy và trở về quê nhà. Nhưng Lương và Chúc đều luôn nhớ nhau. Vài tháng sau đó, Lương tới thăm Chúc. Ngạc nhiên rất đỗi, Lương khi ấy mới hay Chúc là một cô gái xinh đẹp. Hai người từ tình huynh đệ đã mau chóng trở thành tình luyến ái, họ thề nguyền nếu không được sống cùng thì sẽ chết chung.
Không bao lâu sau, Lương nhờ bà mối tới gia đình Chúc xin hỏi cưới. Éo le thay, bố mẹ Chúc Anh Đài đã nhận lễ vật của Mã Văn Tài, con trai một gia đình giàu có cạnh nhà họ. Bị đối phương dẫn trước 1-0 Lương đau khổ, rồi ngã bệnh trầm trọng và qua đời.
Ngày hôn lễ của Chúc với họ Mã, cuồng phong nổi lên, ngăn chặn đám cưới và đưa đoàn người họ Chúc tới lăng mộ của Lương. Chúc Anh Đào xin xuống thắp nén hương tỏ lòng thành. Đột nhiên, mộ Lương mở ra. Không hề ngần ngại, cô gái xinh đẹp bước ngay vào trong, ngôi mộ lập tức khép lại. Khi mưa gió qua đi, bầu trời trong sáng, hồn Lương và Chúc hoá thành đôi bướm đẹp tuyệt, bay quấn quýt lên trời cao. Đôi trẻ không bao giờ phải chịu cảnh chia lìa nữa.
Trải qua hàng nghìn năm, người đời vẫn lưu truyền câu chuyện tình cảm động. Năm 2004, sáu thành phố lớn của Trung Quốc ở các tỉnh Chiết Giang, Giang Tô và Sơn Đông cùng hợp tác trình diễn tích chuyện cảm động này bằng nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Câu chuyện tình đẹp đã trở thành di sản văn hoá phi vật thể được Tổ chức UNESCO công nhận, trở thành huyền thoại văn hoá chính thức của Trung Quốc.
Trường hận ca
Dương Ngọc Hoàn tức Dương Quý Phi là một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Quốc xưa. Cô rất được hoàng đế triều Đường là Đường Huyền Tông sủng ái. Dương Quý Phi được coi là người có sắc đẹp khuynh thành bại quốc.
Sau khi Đường Huyền Tông xây dựng được vương triều vững mạnh, định đô ở Tây An, thuộc tỉnh Thiểm Tây, ông ra lệnh cho quan quân đi tìm những mỹ nữ về dâng. Một ngày vào lễ hội mùa xuân, Dương Ngọc Hân, 18 tuổi khi ấy là nàng hầu cho một trong những hoàng tử của vua Đường đã thu hút sự chú ý của hoàng đế.Dù bị con trai phản đối, Đường Huyền Tông vẫn triệu Dương vào cung lấy làm phi.

Dương Quý Phi trong tranh họa.
Giống như hầu hết những mỹ nữ thời Đường, Dương có thân hình tròn trịa. Để hài lòng ái phi, vua Đường còn xây riêng dinh thự cho nàng. Dương Quý Phi thường xuyên tắm cùng hoa qủa tươi giữ cho làn da đẹp. Hàng tuần, những quả vải tươi - thứ quả nàng yêu thích - từ Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông được đưa tới cho nàng dùng. Rất nhiều người thân của Dương được hoàng đế ban quyền cao chức trọng. Đường Huyền Tông đắm chìm bên người đẹp, xa rời chính sự.
Để chinh phục lòng tin của hoàng đế, An Lộc Sơn - một vị tướng gốc Thổ, nhận Dương là mẹ nuôi cho dù Dương Quý Phi kém An tới 16 tuổi. Dương đã giúp An có nhiều quyền lực. Năm 755, An lãnh đạo cuộc nổi loạn, tiến sát tới kinh đô, khiến Đường Huyền Tông phải lánh nạn xuống phía tây nam. Hoàng đế mang theo cả quý phi họ Dương.
Các quan quân cho rằng, Dương Quý Phi là người gây ra mọi sự trong triều, đòi xử tử nàng. Hoàng đế đã tận mắt chứng kiến người phụ nữ ông yêu thương treo cổ tự vẫn. Khi ấy, người đẹp triều Đường mới 38 tuổi.
Cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn sau vài năm bị dẹp yên. Nhưng vị hoàng đế si tình không bao giờ còn tìm lại được người mình yêu mến. Ít lâu sau thì ông băng hà. Triều Đường sau đó còn tồn tại nhưng không thể trở lại thời hoàng kim như trước kia.
Năm 806, Bạch Cư Dị, một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất thời Đương đã viết “Trường Hận ca” kể về mối tình giữa hoàng đế và người đẹp họ Dương. Bài thơ dài có đoạn: “Tại thiên nguyện tác tị dực điểu. Tại địa nguyện vi liên lí chi. Thiên trường địa cửu hữu thời tận. Thử hận mang mang vô tuyệt kỳ”. Tạm dịch nghĩa là: “Trên trời nguyện làm chim liền cánh. Dưới đất nguyện làm cây liền cành. Trời đất mênh mang còn tan tác. Nỗi hận dằng dặc bao giờ nguôi”.
Vài nghìn năm sau, bản trường ca vẫn luôn là một trong những khúc thơ tình được nhiều người Trung Quốc yêu thích nhất.
Khúc tình ly biệt
Thời nhà Minh (1368-1644), tại Bắc Kinh, Trung Quốc, cuộc sống thịnh vượng và êm ấm hiện diện khắp nơi. Các kỹ viện rất đỗi nhộn nhịp, trong số đó, kỹ viện có nàng ca sĩ Đỗ Thập Nương là nổi tiếng nhất.
Đỗ sinh ra trong một gia đình quan lại. Năm cô lên 10 tuổi, cha cô bị bắt vì tội hối lộ trong một vụ kỳ án, ông bị giam cầm rồi qua đời trong ngục. Sau khi cha chết, Đỗ bị bán vào kỹ viện. Cô xinh đẹp, giọng hát như chim oanh và múa rất giỏi. Kết quả là cô nhanh chóng trở thành kỹ nữ nổi tiếng khắp kinh thành.
Trong cuộc đời làm ca kỹ, Đỗ Thập Nương chưa từng luyến ái ai cho tới khi gặp một học trò tên gọi Lý Giáp đến từ Chiết Giang. Lý tới Bắc Kinh chuẩn bị thi thố. Một lần tới kỹ viện, anh đã gặp Đỗ Thập Nương và lập tức bị hút hồn bởi vẻ đẹp của nàng. Họ bắt đầu sống với nhau trong kỹ viện như vợ chồng.
Cha mẹ Lý đòi con trở về sau khi hay chuyện anh quan hệ với kỹ nữ. Lý từ chối và bị cha mẹ từ mặt, tước quyền thừa kế.
Đỗ cố gắng thương lượng với chủ kỹ viện, chuộc thân với giá 300 lạng bạc. Sau khi hai người rời kỹ viện, họ thuê một chiếc thuyền và định tìm về quê nhà Lý Giáp. Hai người thề nguyền chết cũng không rời.
Thuyền đậu nơi cửa sông. Trên trời trăng cao gió mát, sóng gợn như những chiếc vảy vàng rung động. Trước cảnh vật nên thơ ấy, Thập Nương vô cùng hào hứng, nói với Lý Giáp: “Chúng ta lâu nay yêu nhau trong đau khổ, giờ mới có được phút tự do, ngồi bên nhau nơi đầu thuyền tâm tình đêm nay, chúng ta sẽ đối ẩm với nhau cho say để thỏa lòng mong ước”. Lý Giáp muốn vợ hát lên vài khúc để nhớ lại những đêm tự tình xa xưa.
Thập Nương chiều chồng, bèn cất giọng hát, âm thanh vang vang trong cảnh tĩnh mịch u huyền...
Một công tử con nhà giàu có tên Tôn Phúc đậu thuyền gần đó, nghe thấy giọng ca oanh vàng, bèn cố đi tìm và lập tức mê mệt sắc đẹp của Đỗ. Tôn nảy lòng tham muốn chiếm cô và thuyết phúc họ Lý bán cô cho mình. Đỗ vô cùng đau khổ khi biết sự tình.
Sớm hôm sau, cô trang điểm lộng lẫy. Đỗ không nói lời nào kể cả khi họ Lý đưa cô cho Tôn Phúc với giá 1.000 lạng vàng. Và từ từ, cô mở một chiếc rương bên trong chứa đầy vàng bạc châu báu trị giá tới hơn 100.000 lạng vàng.
Huyền thoại kể rằng, Đỗ Thập Nương nói với Lý Giáp: “Thiếp giấu tài sản của mình trong rương và muốn kiểm chứng tình yêu đích thực của chàng. Thiếp định sẽ dùng tới nó khi chúng ta bắt đầu cuộc sống gia đình. Nhưng chàng đã tham vàng bỏ ngãi, chỉ vài lời xúi bẩy đã bán thiếp cho một người chưa từng quen biết. Chàng có nhớ lời thề nguyền của chúng ta không? Chàng đã phụ thiếp”. Nói xong, cô ném chiếc rương xuống sông, rồi gieo mình tự vẫn.
Cho tới ngày nay, mọi người luôn tỏ lòng kính phục một kỹ nữ mạnh mẽ, thuỷ chung, chân tình. Họ thở dài, và xót xa cho cuộc đời thảm kịch của một má hồng phận bạc.

DIỄN ĐÀN