Lăng Lê Thái Tổ
Lê Lợi chính thức đăng ngôi hoàng đế ngày 15 tháng tư năm Mậu Thân (1428) và băng hà ngày 22 tháng tám năm Quý Mùi (1433). Lê Thái Tổ thọ 49 tuổi, trị vì đất nước được 6 năm, mộ táng ở Vĩnh Lăng Lam Sơn.
Vĩnh Lăng được xây trên một dải đất bằng phẳng với bố cục và phong cách mai táng đơn giản nhưng tôn nghiêm. Lăng đắp đất hình lập phương, xung quanh xây chèn bằng đá đục. Trước Lăng có hai hàng tượng quan hầu cùng tượng các con giống tạc bằng đá, dựng đối xứng qua một lối đi rộng gọi là Thần Đạo. Bốn đôi con giống gồm hai tượng sư tử, hai con ngựa, đôi tê giác và hai hổ. Các tượng này đều được điêu khắc rất đơn giản như ngựa không thắng yên hay sư tử tựa con heo rừng.
Theo cách nhìn tinh tế của những người am hiểu phong thủy thì Vĩnh Lăng được chọn đặt một thế rất đẹp. Phía trước có minh đường rộng rãi cùng tiền án là núi Chúa, phía sau có gối tựa là núi Dầu. Hai bên tả, hữu có hai dãy núi tạo thành thế hổ phục long chầu. Đối diện lại có con sông Chu uốn khúc làm bạch hổ.

Nhiều vị vua sau khi chết vẫn thường để lại một số mộ giả, còn mộ thật được chôn ở nơi kín đáo và bí mật. Vua Lê Thái Tổ có được chôn cất trong Vĩnh Lăng này hay là quàng tại một nơi nào khác? Điều đó luôn còn là một bí mật cho đến ngày khai quật. Vào thập kỷ 70 của thế kỷ trước một người tiều phu đi vào rừng đã tình cờ phát hiện phiến đá phẳng, khi lật lên thấy có khắc dòng chữ "Vĩnh Lăng Tây Thạch Kiệt". Khi các nhà khảo cổ đào sâu xuống bên dưới phiến đá, chỉ vài nhát cuốc đã tìm thấy một cái quách tam hợp. Lần theo cột mốc đá phía Tây này ,các nhà khảo cổ đã tìm được cột mốc phía Đông, phía Nam rồi phía Bắc của Vĩnh Lăng. Riêng khu cột mốc phía Tây, nơi đặt phiến đá "Vĩnh Lăng Tây Thạch Kiệt" có màu đất rất lạ, cây to không mọc được. Rất có thể đây mới là ngôi mộ thật của Le Lợi. Cho tới ngày nay, chính phủ vẫn chưa có quyết định khai quật khu mộ, mọi nghi vấn vẫn còn nằm trong các giả thuyết.
______________________________________________________
Bia Vĩnh Lăng
Bia được dựng cách Vĩnh Lăng chừng 300m về phía Tây Nam, làm từ đá trầm tích biển nguyên khối cao 2,97m; rộng 0,94m và dày 27cm. Bia Vĩnh Lăng được đặt trên lưng một tượng rùa cũng làm bằng đá trầm tích biển nguyên khối dài 3,96m; rộng 0,94m và cao 0,94m kể cả đế.
Nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, phong cách trang trí trên bia phù hợp với nội dung văn bia do chính Nguyễn Trãi soạn. Văn bia tuy ngắn gọn nhưng cô đọng và phản ánh đầy đủ thân thế, sự nghiệp cùng công đức của vua Lê Thái Tổ. Nhà bia với tiết diện hình vuông có 4 mái cong được chống bằng 16 cột gỗ, mỗi bên 4 cột đúng theo phong cách kiến trúc thời Lê Sơ.
Vì không biết chính xác mộ Lê Thái Tổ nằm ở vị trí nào nên mỗi lần hành hương người dân vẫn thường thắp nén nhang nơi đây để tri ân vị anh hùng của dân tộc.
________________________________________________________
Đền Thờ Lê Thái Tổ
Khu đền thờ Lê Lợi nằm cách Vĩnh Lăng độ chừng 200m về phía Nam, được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XX. Khi đoàn quân của vua Quang Trung tiến ra bắc (Kỷ dậu 1789) đã làm cho Lam Kinh bị thiêu tàn, nghe đâu cháy đến ba bốn ngày. Các nhà hảo tâm đã quyên tiền đóng góp cùng công sức của nhân dân địa phương lập đền để thờ vua Lê Thái Tổ trong khi Tây Kinh chưa được trùng tu.
_________________________________________
Khu Chính Điện
Ba tòa điện lớn xây trên nền đất rộng, cao 1,8m so với mặt sân rồng. Mặt bằng của điện (38m x 46m) bố trí hình chữ công. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn thư: Năm Bính Tý (1456) vua Lê Nhân Tông đích thân dẫn các quan về bái yết sơn lăng ở Lam Kinh, nhà vua ra lệnh cho các đại thần đặt tên cho các điện. Theo đó điện phía trước gọi là Điện Quang Đức, điện dọc giữa kêu bằng Điện Sùng Hiếu, điện phía sau đặt tên Điện Diên Khánh. Hai điện Quang Đức và Diên Khánh đều 9 gian, gian giữa rộng nhất, hai gian đầu hồi chỉ 2m làm thành hành lang bao quanh cả 3 điện.
Từ sân rồng lên chính điện là một thềm rộng 5m có 9 bậc với 3 lối lên. Lối giữa rộng chừng 1,80m còn hai lối bên hẹp hơn độ 1,20m. Hai bên lối giữa đặt rồng tạc tròn, thân uốn khúc, trên thân khắc hoa văn hình ngọn lửa trên sóng xoắn, đầu có một bờm, mép rồng trang trí hình râu xoắn, dưới cằm mang râu xoắn vặn thừng, chân của rồng giống như tay người nắm chòm râu phần dưới đặt lên trên một viên ngọc- gọi là Long Hý Châu.
Hai cái đầu rồng đã "bay về trời" không rõ từ lúc nào. Gần đây mấy người thợ nề khéo tay dùng xi măng đúc lại nên mới có tấm ảnh trên.
|