Lê Dụ Tông PDF. In Email
Viết bởi tamlong04 | Thứ bảy, 06 Tháng 3 2010 08:12

Vua Lê Dụ Tông (1679-1731), húy là Lê Duy Đường, miếu hiệu là Dụ Tông Hòa Hoàng đế, là vị vua thứ 22 của triều Lê. Ông là con trưởng của Hi Tông Hoàng đế và được vua cha truyền ngôi từ năm Ất Dậu - 1705. Trong 24 năm trị vì, Lê Dụ Tông đã hai lần đổi niên hiệu là Vĩnh Thịnh (1705-1719) và Bảo Thái (1720-1729). Năm 1729, ông nhường ngôi cho con là Lê Duy Phường (Hôn Đức Công) và được tôn là Thái Thượng hoàng. Năm 1731, sau 2 năm rời ngôi, vua đã băng hà ở tuổi 52.

Theo sách Lịch Triều Tạp Kỹ ghi nhận về việc trị nước của vua Lê Dụ Tông thì: “Bấy giờ thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy ra binh đao, trong nước vô sự, triều đình làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đủ đầy, kỷ cương thi hành được hết... Có thể gọi là thời cực thịnh. Nhà vua rũ tay áo, ngồi ở trên, không phải khó nhọc mà mọi việc đâu vào đấy. Khi nói đến cuộc thịnh trị ở thời bấy giờ người ta tất phải kể đến đời vua này”...Tuy nhiên lúc bấy giờ thế lực của các Chúa rất hùng mạnh. Họ Trịnh ở miền Bắc lấn áp vua Lê, hầu như nắm toàn bộ triều chính đang hòa giải với Chúa Nguyễn ở miền trong, lấy sông Gianh làm mốc. 

Mộ vua Lê Dụ Tông đã được tìm thấy hết sức tình cờ khi một người nông dân ở làng Bái Trạch xã Xuân Giang (Thọ Xuân, Thanh Hóa) đi vỡ hoang, cuốc phải quách ngôi mộ và thấy bên trong có một quan tài sơn son. Một nhát cuốc bổ vào quan tài khiến từ bên trong tỏa ra mùi thơm. Do điều kiện chiến tranh, mãi đến 8 năm sau (tháng 4/1964), khi ngôi mộ ngày càng lộ ra khỏi mặt đất, nước mưa thấm vào, Viện Khảo cổ mới thuê một chiếc xe tải, cẩu chiếc quan tài nguyên vẹn làm bằng gỗ Ngọc Am (Pő mu) về Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam - Hà Nội.

Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chứng kiến cảnh khai quật

Khi mở nắp áo quan ở Hà Nội, người ta thấy xác một người đàn ông hình dạng bên ngoài vẫn còn nguyên, tóc đen lốm đốm có sợi trắng, để hất ra phía sau... Xác mặc 1 chiếc áo hoàng bào thêu kim tuyến, mặt phủ tấm khăn thêu rồng, có 1 chữ vạn thọ và 4 chữ vạn nhà Phật ở 4 góc. Ngoài ra trong ống tay áo có một số đồ vật như quạt giấy, bút lông, túi đựng trầu cau... Nhìn qua, có thể thấy sinh hoạt của vua cũng khá “đạm bạc”. Trong ngôi mộ không tìm thấy châu báu hay đồ trang sức nào...

Thi hài Lê Dụ Tông được giữ tại Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam

Cách ngôi mộ độ 10m, thấy một bia nhỏ khắc chữ “Lê triều Dụ Tông Hoàng đế lăng”. Cách làng Bái Trạch độ 2km, ở làng Phong Lạc, có một tấm bia con ghi địa chỉ các ngôi mộ nhà Lê vùng này, trong đó có mộ Lê Dụ Tông. Sau khi khai quật, thi hài của vua Lê Dụ Tông được lưu giữ ở Bảo Tàng Lịch Sử. Mặc dù được giữ trong bể ngâm phoóc-môn, nhưng những tác động của môi trường chốn dưőng gian đã làm xác vua Lê Dụ Tông bị biến đổi nhiều... Cho đến thời điểm này ngành khảo cổ và bảo tàng nước ta vẫn chưa có những thiết bị hiện đại để gìn giữ thi hài.

Các vật tùy táng tìm thấy trong quan tài

Quan tài có hai đáy, giữa có một lớp gạo rang dày 10cm, trên lớp gạo rang của đáy trên có một tấm ván mỏng trổ 7 lỗ tròn theo hình Thất tinh. Sau tấm chăn bông vỏ gấm, thi hài được liệm bởi nhiều lớp quần áo, vải liệm, gồm: 8 lớp đại liệm bằng gấm thêu hoa bạc kích thước 1,5mx5m, buộc bằng 5 đai lụa; tấm tiểu liệm bằng gấm may kép 2 lần vải; áo Hoŕng bào kim tuyến thêu một con rồng lớn phía trước, phía sau và tay áo thêu nhiều rồng nhỏ; 2 áo long bào thêu rồng kim tuyến; 3 bộ vóc vàng may kép đính vào nhau thành một bộ; 3 lớp lụa kép; 3 chiếc quần bằng lụa mỏng, khố bằng vải mỏng. Tay chân của thi hài được đi tất lụa, chân có giầy gấm thêu, lót một lớp da thuộc mỏng, đầu tựa một chiếc gối bông, hai lỗ tai được nút bằng 2 viên bông bọc lụa.

Ngoài ra trong quan tài còn có sách, bút lông, túi đựng móng tay, răng rụng, quạt giấy, túi đựng cau trầu, một hộp hình quả cau bên trong đựng thứ bột màu trắng... Khi giở tấm khăn phủ mặt, các nhà khảo cổ hết sức ngỡ ngàng khi thấy da mặt của thi hài còn màu xám nhạt, sau vài phút thì ngả màu xám đều như toàn thân. Thi hài có teo nhưng chưa khô, tay chân thân thể vẫn còn mềm mại, các khớp có thể cử động được. Môi của thi hài bị teo để lộ một hàm răng đen đã rụng một vài chiếc, cằm có chòm râu đen đã điểm bạc...

Từ năm 1964 đến nay, di hài vua Lê Dụ Tông được bảo quản trong kho có môi trường ổn định, phù hợp với điều kiện bảo quản hiện vật hữu cơ, nên vẫn được giữ ở tình trạng tốt.

Từ năm 1996, con cháu họ Lê đã có đề nghị Bộ Văn hóa-Thông tin cho phép đưa di hài nhà vua về hoàn táng tại Thanh Hóa. Nhưng vì nhiều lý do, tâm nguyện này chưa được thực hiện. Tháng 10 năm 2006, Hội đồng họ Lê tiếp tục có văn bản đề nghị với Bộ Văn hóa-Thông tin. Được sự nhất chí của Chủ tịch nước, Thủ tướng chính phủ, di hài của vua Lê Dụ Tông được đưa về hoàn táng tại Thanh Hóa.

Hoàn táng nhà vua lắm gian truân này ở đâu trên đất Thanh Hóa cho hợp tình hợp lý, chung qui có ba dòng ý kiến như sau:

1. Lam Kinh, nơi có nhiều lăng mộ của các vị hoàng đế Lê Sơ.

2. Xuân Quang, Thọ Xuân nơi hiện có 2 lăng mộ của các vua Lê khác.

3. Xuân Giang, Thọ Xuân là nơi đã tìm thấy lăng mộ Lê Dụ Tông. 

Sở dĩ có việc “tranh cãi” giữa Xuân Giang và Xuân Quang là do xưa kia, hai xã này (cùng hai xã Xuân Sơn, Xuân Hưng ngày nay) đều thuộc Trang La Đá. Thời kỳ dấy binh, Bình Định Vương Lê Lợi đã đổi tên thành Trang Bàn Thạch. Sau này, vùng đất này là nơi an táng ba lăng mộ của các vua Lê, nên nhân dân quen gọi là Trang Ba Lăng. Đến năm 1922, thực dân Pháp đào kênh Nông Giang, xây đập Bái Thượng, nên tách thành 2 xã Xuân Giang và Xuân Quang (mộ phần vua Lê Dụ Tông nằm bên làng Bái Trạch, xã Xuân Giang.

Đúng 1 giờ sáng ngày 25 tháng 1 năm 2010 (tức 11 tháng Chạp năm Kỷ Sửu), lễ nhập quan và tổ chức đưa di hài vua Lê Dụ Tông về hoàn táng tại làng Bái Trạch, xã Xuân Giang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Hội đồng họ Lê Việt Nam và các đơn vị liên quan thực hiện.

 Riêng quan tài và các vật tùy táng đã được liệm theo vua ngày xưa, do khi khai quật lên ngày trước đã có phần hư hỏng, tiếp súc với không khí trong vài chục năm không thể còn nguyên vẹn, nên dòng họ Lê thống nhất các hiện vật gốc sẽ được lưu giữ thành cổ vật tư liệu của Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam về một vị hoàng đế.

Quan tài mới được làm bằng đúng gỗ Ngọc Am, theo đúng kích thước hoa văn cũ, nặng tới 700kg, 32 bộ áo được may mới theo đúng màu sắc, hoa văn cũ, tuy nhiên không giống được y nguyên như long bào của Vua ngày xưa (vì rất tốn kém).

Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa cùng Hội đồng họ Lê Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng con đường rải nhựa dài khoảng 600m (từ Bệnh Viện Thọ Xuân ) dẫn từ đường chính vào khu hoàn táng. Toàn bộ khu khuôn viên hoàn táng rộng hơn 5000m2 và sẽ được quy hoạch thành khu lăng mộ Vua trong tương lai.

Hành trình đưa di hài vua Lê Dụ Tông về hoàn táng tại Thanh Hóa xuất phát từ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam theo đường Láng-Hòa Lạc-đường Hồ Chí Minh vào Lam Kinh dừng lại mươi phút để làm lễ Yết cáo tổ tiên. Tại làng Bái Trạch, Ban tổ chức làm lễ hạ huyệt và lấp mộ. Lễ hoàn táng kết thúc vào 11giờ ngày 25 tháng 1 năm 2010.

htldt1

htldt2

htldt3

htldt4

htldt5

htldt6

htldt7

htldt8

Chiều 25.1, con cháu dòng họ Lê cũng đã tổ chức lễ rước linh vị của Vua Lê Dụ Tông từ khu lăng mộ ở làng Bái Trạch về thờ cúng tại Thái miếu nhà Hậu Lê tại phường Đông Vệ, TP Thanh Hóa. Đây là nơi đang lưu thờ tất cả bài vị của 27 vua (21 vua tại vị và 6 vua được truy phong) của nhà Hậu Lê (1418 - 1789). Sắp tới, tỉnh Thanh Hóa sẽ tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương hoàn chỉnh khu lăng mộ xứng đáng với tầm vóc, vị thế của nhà vua, để lăng mộ Vua Lê Dụ Tông tại làng Bái Trạch, xã Xuân Giang sẽ là một trong những địa chỉ lịch sử - văn hóa để nhân dân đến viếng thăm, chiêm bái.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 16 Tháng 11 2011 11:27
 
Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Quay về trang chủ Thanh Hóa
Website thanhhoachoa.com được lập ra bởi lòng mong muốn tạo sân chơi cho đồng hương Thanh Hóa sống xa quê. Mong các bạn luôn có những khoảnh khắc thật thoải mái cùng thanhhoachoa.com! Chúc các bạn đón Giáng sinh thật vui khỏe và năm mới nhiều may mắn!
Bạn đang xem Trang chủ Lịch sử Lịch sử xứ Thanh Lê Dụ Tông