|
Bà Triệu "Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp cho người!", còn gọi là Triệu Trinh Nương, tên thật là Triệu Thị Trinh, Lệ Hải Bà Vương hay Nhụy Kiều Tướng Quân, sinh ngày mùng 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam. Bà Triệu còn được gọi là Triệu Ẩu theo cách gọi của người Trung Quốc, là người Quân Yên, quận Cửu Chân, nay thuộc huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.
Thuở nhỏ, cha mẹ mất sớm, bà ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng lớn có khí phách, đức độ, và thế lực ở miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân. Triệu Thị Trinh là người có sức khỏe, gan dạ và mưu trí. Người ta kể lại rằng khi người thân hỏi về chí hướng mai sau, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa: "Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị!". Năm 19 tuổi, bà cùng người anh tập hợp hơn ngàn nghĩa quân, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc). Nơi đây là một thung lũng nằm ở giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển lại vừa là cửa ngõ từ đồng bằng phía Bắc vào. Triệu Thị Trinh đã giết chết người chị dâu, vợ của Triệu Quốc Đạt có tên là Giang Thị, khi biết được bà ta lén lút gửi thư báo cho giặc hay anh em mình đang chuẩn bị khởi nghĩa.

Đền thờ Bà Triệu
Truyền thuyết về thời chuẩn bị khởi nghĩa chống giặc Ngô của Bà Triệu.
1. Chuyện bà Triệu thu phục được con voi trắng một ngà:
Người dân ở thôn Cẩm Trướng thuộc xã Định Công còn truyền lại câu chuyện như sau: Vùng núi này có con voi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ. Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa còn lầy lội) rồi dũng cảm nhẩy lên cưỡi đầu voi và cuối cùng đã khuất phục được con voi hung dữ. Chú voi trắng này sau trở thành người bạn chiến đấu trung thành của bà Triệu.
Tiếng tăm cô gái 19 tuổi trị voi rừng vang dội khắp nơi, càng thu hút thêm nhiều người tình nguyện đi theo bà.
2. Chuyện "Đá biết nói":
Sau khi bà Triệu huấn luyện thuần thục chú voi hung dữ trên, những ngày đầu tụ nghĩa, bà đã ngầm cho đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao giả lời thần nhân mách bảo:
"Có bà Triệu tướng,
Vâng lệnh Trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương."
Nhờ đó cả vùng đã đồn ầm lên rằng núi kia biết nói, báo hiệu cho dân chúng biết bà Triệu là "thiên tướng giáng trần" giúp dân, cứu nước. Vì vậy hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to. Họ kéo nhau xuống Phú Điền dựng căn cứ. Trong nhân gian vẫn còn truyền tụng bài ca dao từ bao đời nay:
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu mũi mác cho chồng trẩy quân”
3.Những câu chuyện nửa hư nửa thực biểu hiện tình cảm của nhân dân đối với công cuộc khởi nghĩa của bà Triệu:
Đây chuyện một ông già mù miền núi đã đi khắp nơi, dùng tiếng đàn, giọng hát của mình để ca ngợi cổ vũ dân chúng đứng dậy đánh giặc cứu nước. Kia một bà cụ hàng nước cố xin cho con gái được theo quân giết giặc, còn mình thì giúp cả chõng chuối với chum nước chè xanh cho nghĩa binh đang trẩy quân qua đỡ đói, đỡ khát.
Dọc sông Mã, vùng Cẩm Thạch có truyền thuyết và di tích về một bà nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Ngô (ám chỉ bà Triệu)
Vùng Khang Nghệ còn có truyền thuyết nói rằng: Thời xưa sông Mã có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát như lá tre. Một chàng trai đã ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với bà Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân. Trong một trận giao tranh trên sông nước, vì anh đi chân vòng kiềng nên đã vấp phải dây chằng mà tử trận. Giặc Ngô đang ăn mừng thắng lợi thì hai bờ sông chuyển động. Đất trời nổi cơn giận dữ, hắt rừng cây núi đá xuống lấp cạn dòng sông, chôn vùi cả mấy vạn xác thù...
Lại có câu chuyện đền Cô Thị ở xã Hà Ngọc (Hà Trung): Một cô gái vốn rất thích quả thị, chẳng may bị chết khi người yêu còn đang đánh giặc nơi chiến trường, đã biến thành cây thị. Cây thị này chỉ có một quả, không ai hái được, vì hễ ai thò tay bẻ thì cành thị lại tự dưng vút hẳn lên cao. Cành ấy luôn ngả về phía đông nam, theo hướng người yêu của cô đang ở trong quân dinh bà Triệu. Một ngày kia thắng trận, chàng trai được phép về thăm làng xóm thì cành cây mới chịu sà xuống và quả thị đã tự rơi vào ống tay áo của chàng...
Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn (Phú Điền). Ở đây còn có núi Chung Chinh với 7 đồn lũy tương truyền là quân doanh của bà Triệu, nơi đã từng diễn ra trên ba chục trận đánh với quân Ngô. Dưới chân núi Tùng, còn có cánh đồng Lăng Chúa (lăng bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc... tương truyền là tên cũ còn lại khi bà Triệu đắp lũy xây thành. Ở đây còn lưu truyền rộng rãi tích về ba anh em nhà họ Lý đi tìm bà Triệu, rước bà từ quê ra đây dựng doanh trại, sửa soạn khởi nghĩa và tôn bà làm chủ tướng...
Khi binh lực đã lớn mạnh, bà Triệu đem quân tiến đánh các quận huyện của bọn quan lại nhà Ngô.
"Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt
Lục Dận nhiều phen mắt đã vàng."
Năm Mậu Thìn (248) vì quan lại nhà Ngô tàn ác, dân gian khổ sở, Triệu quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu-chân. Bà Triệu đem quân ra đánh giúp anh. Các thành ấp của quân Ngô đều bị đánh phá tan tành. Bọn quan cai trị kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan rộng nhanh chóng.
Bà chỉ huy nghĩa quân vô cùng gan dạ. Đi đánh trận bà thường mặc áo giáp đồng, mang guốc ngà, cài trâm vàng, nên đời sau, thường gọi tên bà là Nhuỵ Kiều tướng quân - Nữ tướng yêu kiều, là Lệ Hải bà vương - Vua bà vùng biển mỹ lệ, có sách cho rằng vì quân Ngô hễ trông thấy bà là sợ đến phát khóc, nên chúng ghép chữ lệ vào tên gọi bà).
Bấy giờ, ở phương Bắc, Tôn Quyền mặc dầu đang phải lo đối phó với hai nước Ngụy, Thục nhưng vẫn phải phái viên danh tướng Lục Dận (nghe đâu là cháu họ viên danh tướng Lục Tốn của nước Ngô trong Tam Quốc Chí), một tướng từng kinh qua trận mạc, lại rất quỷ quyệt sang làm thứ sử.
Lục Dận đem 8.000 quân tinh nhuệ sang đàn áp. Bà Triệu và anh là Triệu Quốc Đạt liền cử tướng lên biên giới chặn đánh nhưng thất bại. Sau khi chiếm lại được lỵ sở Giao Châu, y đem quân xuống phía Nam tiến đánh Bộ Điền, đại bản doanh của nghĩa quân. Trong lúc nguy nan thì anh bà không may lâm trọng bệnh rồi mất (có người cho rằng Triệu Quốc Đạt bị tử trận). Tướng sĩ bèn tôn bà lên thay anh giữ quyền chủ tướng tối cao.
Khi ấy, Lục Dận vừa đánh vừa đem của cải chức tước ra dụ dỗ mua chuộc các thủ lĩnh người Việt. Một số kẻ giao động mắc mưu địch. Mặc dầu vậy, Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường chối bỏ lời dụ dỗ của giặc, tiếp tục đánh gây cho giặc nhiều tổn thất, khiến chúng phải run sợ bảo nhau:
"Hoành qua đương hổ dị
Đối diện Bà Vương nan"
(Nghĩa là: cầm giáo chống lại hổ còn dễ, chứ đối địch với bà Triệu thì thật khó).
Truyền thuyết dân gian kể rằng, về sau có kẻ phản bội, mách với Lục Dận rằng bà là nữ tướng "ái khiết úy ô" - yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn. Quân Ngô liền trần truồng tiến đánh bà. Bà hổ thẹn nên thua trận. Sau khi giao lại binh quyền cho 3 tướng họ Lý, khấn với đất trời “sinh vi tướng, tử vi thần”, bà lên núi Tùng tuẫn tiết.
Lúc bấy giờ bà mới 23 tuổi.
Không rõ từ khi nào trong dân gian đã truyền miệng câu đối không rõ tác giả:
"Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc
Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đáng nam nhi."
Tương truyền bà Triệu mất đi, nhưng anh linh vẫn không tan. Nhiều đêm dân làng các vùng Bồ Điền, Phú Điền vẫn nghe văng vẳng trên không trung tiếng voi gầm, ngựa hí và tiếng cồng thúc quân dóng dả. Thật đúng là:
"Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.".
Năm Lý Bôn khởi nghĩa, ông mộng thấy Bà Triệu hẹn sẽ giúp sức để tiêu diệt quân xâm lược nhà Lương. Quả nhiên, trong một trận giao tranh, bỗng có một cơn lốc xoáy nổi lên. Bọn tướng giặc là Tôn Quýnh, Lý Tử Hùng tối tăm mặt mũi, bị Lý Bôn đánh cho tan nát.
Khi Lý Bôn lên ngôi (Lý Nam đế), nhớ ơn bà phù trợ, đã sai lập miếu thờ, xây lăng mộ bà ở làng Phú Điền (Thanh Hóa) và truy phong cho bà: "Bật chính Anh liệt Hùng tài Trinh nhất phu nhân".
Tại nơi bà mất là núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa vẫn còn di tích lăng mộ của bà, cách nơi bà mất không xa (ngay bên Quốc lộ 1A) là khu đền thờ bà. Hằng năm, vào ngày 19 đến ngày 24 tháng 2 âm lịch, người dân trong vùng vẫn tổ chức tế giỗ bà để tưởng nhớ về người con gái anh hùng của dân tộc Việt.
Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng hình ảnh người con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí hai bà Trưng "giành lại giang san, cởi ách nô lệ" muôn thuở không mờ trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
"Miếu tạc bia truyền lẫn khói nhang
Nghìn thu oanh liệt Triệu Kiều quang
Cờ vàng khỡi nghĩa quân Ngô khiếp,
Voi trắng tung hoành giặc Lữ tan.
Khăn yếm những mong đền nợ nước,
Áo cơm bao quản gánh giang sơn.
Núi Bồ làm dấu ghi thiên cổ,
Máy tạo hưng vong cũng khó lường.".
Trong sách Giao Chỉ Chí có chép: "Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài 3 thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giầy mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần." Có lẽ người nước Ngô căm ghét bà nên đã gắn cho "vú dài 3 thước" và còn gọi tên Triệu Ẩu - Ẩu tiếng hoa nghĩa là bà già.
|